Tên đầy đủ in trên tài liệu hội nghị: “Những thành tựu nổi bật trong Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ và Tái tạo” — bản tiếng Anh là International Scientific Conference: Recent Advances in Aesthetic and Reconstructive Plastic Surgery. Địa điểm và thời gian ghi trên phông hội nghị: Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2026.
Hội nghị gắn với dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Bộ môn Phẫu thuật Tạo hình, Trường Đại học Y Hà Nội, chủ đề của lễ kỷ niệm là “35 năm – Kiến tạo giá trị, kết nối tri thức, lan tỏa đam mê”. Bộ môn Phẫu thuật Tạo hình và Hội Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ Hà Nội cùng đứng ra tổ chức.
Thành phần tham dự và phát biểu
Hội nghị có sự tham gia của các chuyên gia đến từ Pháp, Mỹ, Nhật, Đài Loan (Trung Quốc) và Việt Nam.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội — GS. Nguyễn Hữu Tú — nhận định bộ môn là đơn vị “trẻ nhưng khỏe”, có tốc độ phát triển nhanh và đóng góp rõ nét cho hệ thống y tế. Bộ môn được hình thành từ tầm nhìn của GS. Nguyễn Huy Phan, người sáng lập và dẫn dắt bộ môn từ những ngày đầu.
Những hướng chuyên môn sau 35 năm
Theo bài viết của VietTimes về hội nghị, sau 35 năm bộ môn đã triển khai các kỹ thuật chuyên sâu gồm: tạo hình che phủ khuyết hổng phần mềm bằng vi phẫu thuật, tái tạo vú bằng vạt tự thân, phẫu thuật dị tật bẩm sinh, và ứng dụng vạt ALT. Hội nghị cũng đề cập tới việc ứng dụng công nghệ 3D và thực tế ảo trong lập kế hoạch phẫu thuật.
Cũng theo ghi nhận này, phạm vi của phẫu thuật tạo hình đã mở rộng từ phục hồi sau chấn thương và tái tạo sau ung thư sang cả can thiệp thẩm mỹ, gắn với chất lượng sống của người bệnh ở nhiều chuyên khoa.
Một công bố quốc tế về số đo nhân trắc phụ nữ Việt Nam
Trong số các báo cáo, có phần trình bày dẫn lại một công bố trên tạp chí European Journal of Plastic Surgery:
“Breast anthropometry in Vietnamese youth: a comprehensive study of 128 women”
European Journal of Plastic Surgery, xuất bản 14/11/2023 · DOI 10.1007/s00238-023-02134-5
Nghiên cứu khảo sát 128 phụ nữ Việt Nam chưa sinh con, độ tuổi 18–25, chỉ số khối cơ thể trong khoảng 18,5–25 kg/m², với 19 chỉ số nhân trắc chia thành ba nhóm. Theo tóm tắt công bố, thể tích tuyến vú trung bình bên phải là 437,1 ± 266,8 ml và bên trái là 457 ± 259,7 ml — bên trái lớn hơn bên phải một cách có ý nghĩa thống kê; đường kính quầng vú trung bình 3,4 ± 0,6 cm.
Danh sách tác giả của công bố, theo dữ liệu Crossref: Dinh Minh Nguyen, Thiet Son Tran, Ngoc Tuan Nguyen, Thi Nga Le, Duc Hoang Nguyen, Tran-Thuy Nguyen.
Ghi nhận: vì sao số đo của người Việt đáng chú ý
Theo TS.BS Nguyễn Đình Minh, dữ liệu nhân trắc đo trên chính người Việt có giá trị thực hành rõ rệt, bởi số đo của phụ nữ Việt Nam khác với các nhóm dân số khác — lập kế hoạch phẫu thuật dựa trên số liệu của chính nhóm dân số mình có cơ sở hơn so với mượn số liệu nước ngoài.
Một chi tiết trong công bố cũng đáng lưu ý với người bệnh: ngay trong nhóm 128 phụ nữ cùng độ tuổi và cùng khoảng chỉ số khối cơ thể, hai bên ngực đã lệch nhau ở mức có ý nghĩa thống kê. Nói cách khác, hai bên cơ thể của một người vốn không cân đối tuyệt đối — đó là đặc điểm bình thường, không phải khiếm khuyết. Đây cũng là lý do khâu đo và vẽ định vị trực tiếp trên cơ thể từng người trước mổ không được rút gọn: phương án của người này không dùng lại được cho người kia.